Khái niệm “chặt chẽ” (compactness, nói rộng ra thì là phòng ngự theo một khối, nhưng chưa tìm ra thuật ngữ tiếng Việt phù hợp nên mình để tạm thế đã) được nói tới rất nhiều trong những mùa giải gần đây, nhất là sau khi Atletico Madrid của HLV Diego Simeone vô địch La Liga và “làm loạn” ở Champions League. Bài viết nay sẽ cố gắng diễn giải khái niệm “chặt chẽ” trên cơ sở phân tích các trận đấu cụ thể.

–>> Xem thêm “Tìm hiểu sơ đồ 4-4-2 cô đặc của Simeoneo”

Thế nào là chặt chẽ

Rất đơn giản, chặt chẽ trong bóng đá có nghĩa là duy trì một khoảng cách ngắn giữa các cầu thủ cách xa nhau nhất cả theo bề ngang lẫn bề dọc. Tuy nhiên, đấy là một định nghĩa quá… đơn giản, bởi nó không nói lên được khả năng ứng dụng của khái niệm này vào thực tế. Ví dụ, như thế nào là sự chặt chẽ tối ưu? Đội hình giãn quá thì đương nhiên không tốt rồi, nhưng co quá thì có tốt không?

basic-definitions.png
Một ví dụ cơ bản về sự chặt chẽ: Khoảng cách giữa các cầu thủ xa nhau nhất của đội đỏ quá lớn, khiến cho đội hình của họ bị đánh giá là thiếu chặt chẽ

Mổ xẻ khái niệm này tới mức độ cá nhân, ta có thể thấy chặt chẽ có nghĩa là các cầu thủ trong cùng một đội bóng đứng đủ gần nhau để có thể tạo nên “sự kết nối”, từ đó đảm bảo sự chặt chẽ cho cả đội hình. Tuy nhiên, một lần nữa thì định nghĩa này vẫn chưa đủ… chặt chẽ để có thể thỏa mãn được người đọc. Bởi hoàn toàn có khả năng là 10 cầu thủ của một đội bóng đứng trong một khu vực có chu vi chỉ khoảng 5 mét, nghĩa là tính “kết nối” rất cao, nhưng rõ ràng là khả năng phòng ngự của cả hệ thống chỉ là con số 0.

Vậy như thế nào mới là chặt chẽ một cách tối ưu? Thực ra, thế nào là tối ưu còn phụ thuộc vào từng đối thủ, hoàn cảnh cụ thể. Nhưng để bắt đầu, có thể nói rằng chặt chẽ tối ưu là khi các cầu thủ vẫn giữ được tính kết nối khi… cách xa nhau nhất có thể. Bằng cách này, họ vừa có thể kiểm soát được thêm nhiều không gian (không bị dúm lại như trong ví dụ trên), vừa đảm bảo tận dụng được những lợi thế của một khối phòng ngự chặt.

Một luận điểm khác cho rằng tính chặt chẽ cần phải có sự liên quan tương đối với vị trí của đối thủ. Vấn đề ở đây không chỉ là một đội duy trì tính chặt chẽ giữa các cầu thủ của đội đó như thế nào, mà còn là việc phải làm sao cho khoảng cách giữa các cầu thủ trong đội với nhau và giữa các cầu thủ trong đội với đối thủ luôn phải đủ ngắn. Khi đó thì đội bóng vừa đạt được nguyên tắc cơ bản của sự chặt chẽ, vừa thu hẹp tới mức tới thiểu không gian chơi bóng của đối thủ. Đó là điều không có được nếu theo định nghĩa đầu tiên.

Những lợi ích của sự chặt chẽ khi phòng ngự

Tính kết nối

Một trong rất nhiều những lợi ích cho khâu phòng ngự có được từ một hệ thống có tính chặt chẽ cao là việc số lượng những “kết nối” giữa các cầu thủ phòng ngự tăng lên. Trước hết, hãy làm rõ xem “kết nối” là gì? Đơn giản nhất, một cầu thủ có “kết nối” với cầu thủ khác khi khoảng cách giữa anh ta với cầu thủ ấy là đủ gần để có thể hỗ trợ ngay khi cần thiết.

Đây là yếu tố mang tính sống còn khi phòng ngự trước những đội bóng có ý đồ tấn công với số lượng lớn vào một khoảng không gian nhất định. Nôm na, nếu các cầu thủ khác có kết nối với cầu thủ có nhiệm vụ bảo vệ khu vực không gian đó, họ có thể kịp thời xuất hiện để tránh tình trạng cầu thủ kia rơi vào tình trạng một chống nhiều.

defensive-connections.png
Trong một hàng thủ thiếu chặt chẽ

Trong một hàng thủ thiếu chặt chẽ như ta thấy ở hình trên, chỉ có 2 cầu thủ áo trắng ở khoảng cách đủ gần để có thể hỗ trợ cho tiền vệ trung tâm ở gần bóng. Nếu cầu thủ có bóng của đối phương quyết định tấn công vào khoảng trống trước mặt, có ít nhất 3 cầu thủ áo trắng hoàn toàn không thể di chuyển và hành động kịp thời.

Tệ hơn, trong trường hợp này, khi đội phòng ngự có hơi hướm định hướng đối thủ (ưu tiên theo người), 2 trong số 3 cầu thủ trên lại được yêu cầu phải bảo vệ trung lộ, không được để ra các khe hở mà đối phương có thể khai thác. Điều đó, kết hợp với việc họ không kết nối được với tiền vệ trung tâm gần bóng, khiến cho cấu trúc của tuyến tiền vệ của đội áo trắng là rất yếu, dẫn tới việc đối phương có thể dễ dàng tạo ra các khe hở để tấn công vào.

good-defensive-connections.png
Trong một hệ thống chặt chẽ hơn

Ngược lại, một cầu thủ khi được đặt trong một hệ thống có tính chặt chẽ cao có tới 5 kết nối so với các đồng đội; 3 trong số đó là ở trung tâm, nghĩa là tính ổn định của hệ thống phòng ngự ở khu vực theo chốt luôn được đảm bảo. Ngoài ra, việc có 2 cầu thủ khác ở gần cầu thủ có bóng của đối phương cũng khiến cho khả năng hỗ trợ pressing tốt hơn.

Tăng khả năng tiếp cận bóng

Một khối phòng ngự chặt chẽ có thể tạo ra khả năng tiếp cận bóng tốt hơn khi phòng ngự. Nghĩa là, đội phòng ngự có nhiều cơ sở hơn để có thể gây sức ép lên trái bóng một cách hiệu quả và hợp lý.

11178412_10152803672557864_1551511882_n.jpg
Một tình huống trong trận đấu giữa UNG (đội phòng ngự) và Georgia State University. Ban đầu, khả năng tiếp cận bóng của UNG là rất thấp

Trong hình vẽ trên, khả năng tiếp cận bóng của đội phòng ngự là rất thấp (nên không có khả năng gây sức ép với bóng một cách hợp lý) vì một số lý do, đa phần trong đó xuất phát từ sự thiếu chặt chẽ. Tiền đạo phải đang cover một khu vực không có ý nghĩa nào với cả 2 đội (xét từ vị trí bóng), trong khi việc tiền vệ phải chọn theo kèm một-một với cầu thủ đối phương khiến kết cấu phòng ngự theo bề ngang rất thiếu chặt chẽ. Điều đó dẫn tới việc đội trắng bị overload ở 2 khu vực quan trọng:

  1. Khu vực bị overload đầu tiên là ở hành lang gần bóng. Do hậu vệ phải của đối phương hoàn toàn tự do, anh ta có thể dâng lên để tạo ra tình huống 4vs3 ở cánh phải (khu vực khuông xanh). Nguyên nhân của tình trạng này là đội trắng không có khả năng nghiêng đội hình, chủ yếu bởi việc chọn vị trí không tốt của 2 tiền đạo.
  2. Khu vực bị overload thứ 2 là khu vực trọng yếu – trung lộ, nơi đội xanh tạo được tình huống 3vs2. Đó là hệ quả của việc đội xanh không có được sự chặt chẽ theo bề ngang, chủ yếu do tiền vệ phải của họ mải kèm cầu thủ chạy cánh của đối phương. Vị trí của tiền đạo lệch phải cũng là một vấn đề (như đã nói).
11185774_10152803674702864_2128226435_n.jpg
Khi hệ thống trở nên chặt chẽ hơn, khả năng tiếp cận bóng cũng tốt hơn

Ở mức độ cơ bản nhất, việc tạo được một khối chặt chẽ ở khu vực gần bóng giúp cho một đội bóng có khả năng tiếp cận bóng tốt hơn, do họ sẽ có nhiều cầu thủ ở vị trí có khả năng gây sức ép với bóng hơn. Một số khía cạnh khác như việc định hướng bóng và khâu chuẩn bị pressing tốt cũng rất quan trọng trong việc đảm bảo đội bóng sẽ tạo được một áp lực đủ lớn lên bóng. Việc có nhiều cầu thủ vây quanh vị trí bóng sẽ làm hạn chế những lựa chọn của đối thủ, trong đó có lựa chọn xâm nhập khu vực khác thông qua việc dẫn bóng.

bad-access.png
Đội trắng trong hình trên không có được khả năng tiếp cận bóng tốt do đội hình thiếu chặt chẽ, nên đội tím có thể dễ dàng tạo ra được một tình huống 4vs3 ở trung tâm. Cầu thủ có bóng có thêm không gian và thời gian để tấn công vào các khoảng không nguy hiểm.
good-ball-access.png
Ngược lại, cũng trong một tình huống như thế, việc đội trắng tạo được một khối phòng ngự chặt chẽ giúp cho họ có khả năng tiếp cận bóng tốt hơn, và có thể gây sức ép buộc đối phương phải đưa bóng về những khu vực ít có ý nghĩa về mặt chiến thuật một cách dễ dàng..

Khi sử dụng khối phòng ngự chặt (đặc biệt là các khối chặt theo bề ngang), việc duy trì được khả năng tiếp cận bóng là luôn luôn cần thiết. Bởi nếu khả năng tiếp cận bóng thấp, đồng nghĩa với việc không tạo được áp lực lên bóng khi cần, đối phương có thể đảo bóng sang những khu vực không được bảo vệ tốt một cách dễ dàng do cầu thủ có bóng của họ có nhiều thời gian và không gian hơn cho các quyết định của mình.

Ví dụ như trong hình trên, nếu đội phòng ngự không có khả năng tiếp cận bóng tốt, hệ thống phòng ngự của họ sẽ trở nên rất thiếu ổn định, do đối phương có thể dễ dàng đảo bóng sang cánh phải, nơi họ có 2 người so với 0 của đội phòng ngự.

Khai thác việc đối thủ thiếu “cầu thủ cây kim”

“Cầu thủ cây kim” (needle player) là thuật ngữ để chỉ những cầu thủ có khả năng kiểm soát bóng và rê dắt tuyệt vời, người đóng vai trò trọng yếu trong việc duy trì quyền kiểm soát bóng ở khu vực gần cầu môn đối phương, nơi áp lực từ các hậu vệ là cao hơn so với bình thường. Cũng bởi có những đặc điểm này, mà các cầu thủ cây kim đặc biệt hiệu quả trong việc đối phó với những hàng thủ chặt chẽ, tới mức người ta xem họ là vũ khí chính để phá lối phòng ngự này.

Điều đó cũng có nghĩa là khối phòng ngự chặt có thể có một lựa chọn tốt khi đối phó với những đội bóng không có những cầu thủ cây kim, ví dụ Real Madrid trước đây. Real Madrid từng có thời gian dài gặp rất nhiều khó khăn khi đối đầu với Atletico ở La Liga. Trong khi đó, cũng trong thời gian ấy, thành tích đối đầu của Barca với Atletico lại tốt hơn hẳn. Nguyên nhân nằm ở sự khác biệt về đặc điểm của những cầu thủ mà các HLV sở hữu.

Barca vốn nổi tiếng là có chất lượng kỹ thuật tuyệt vời; các cầu thủ của họ hầu hết đều có khả năng duy trì quyền kiểm soát bóng ngay cả dưới áp lực lớn. Phẩm chất này đặc biệt có ích khi họ đối đầu với những đội bóng như Atletico, bởi họ có không chỉ một, mà một số, cầu thủ cây kim, những khắc tinh của các hệ thống phòng ngự chặt.

Raketenflügel.png
Trong hình trên, ta có thấy nhiều cầu thủ Barca mạnh dạn đặt họ vào giữa các khối phòng ngự của Atletico, đơn giản vì họ biết mình có thể ‘xoay xở’ được

Ngược lại, những cầu thủ tấn công quan trọng nhất của Real (đang nói thời trước nhé) như Ronaldo và Bale thì lại cần nhiều khoảng trống. Nếu đối phương không cho họ nhiều không gian để hoạt động, họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tạo ra ảnh hưởng, điều xảy ra thường xuyên trong các trận derby Madrid ở giai đoạn mà chúng ta đang nói tới. Thực ra, không phải là Real không có những cầu thủ cây kim – Modric và Isco là những người như thế – nhưng HLV của Real ở giai đoạn trên là Carlo Ancelotti đã không biết cách khai thác hết tiềm năng của những cầu thủ này nhằm đối phó với sơ đồ 4-4-2-0 của Simeone.

4-4-2-und-Loch-im-Zentrum-bei-Real.png
Một tình huống trong trận thua 0-4 của Real trước Atletico. Những cầu thủ như Bale gần như không có khoảng trống để hoạt động. Đội hình của Real Madrid cũng nghiêng về cánh nhiều hơn so với đội hình của Barca ở ảnh trước.

Kiểm soát không gian

Do khoảng cách giữa những cầu thủ xa nhau nhất theo cả bề ngang lẫn bề dọc bị rút lại, các đội bóng phòng ngự bằng khối chặt chẽ sẽ “phủ” (cover) được ít không gian hơn, nhưng họ lại kiểm soát (control) được nhiều hơn. Với khối chặt, một đội bóng không phủ được nhiều phần sân, nhưng bù lại, đã phủ được phần nào là thực sự kiểm soát phần đó.

spatial-cover-no-control.png
Đội phòng ngự phủ một không gian lớn, nhưng gần như không có khả năng kiểm soát các không gian này
spatial-cover-good-control.png
Ở đây, đội phòng ngự phủ được ít không gian hơn, nhưng thực sự kiểm soát được không gian này.

Việc kiểm soát không gian có thể đạt được thông qua việc tạo ra tình trạng áp đảo về quân số ở không gian nói trên, khiến đối thủ không thể tiếp cận và khai thác không gian đó cho các mục đích chiến thuật. Sự áp đảo này giúp đội phòng ngự cắt được nhiều đường chuyền hơn, hạn chế tới mức tối thiểu các khoảng không có thể khai thác được, từ đó buộc đối thủ phải đưa bóng tới những khu vực khác ít có giá trị về mặt chiến thuật hơn, ví dụ ở hai cánh.

Với những đội bóng khai thác khối phòng ngự chặt để phòng ngự chống bóng (tập trung sự chú ý vào trái bóng thay vì đối thủ hay khu vực), kiểm soát không gian là một yếu tố then chốt. Trong phần lớn trường hợp, có những khoảng không trên sân không nhất thiết phải được kiểm soát, bởi đối thủ sẽ không khai thác những khoảng không này một cách hiệu quả.

Bởi thế, các đội phòng ngự có thể “cắt góc” – một thuật ngữ chỉ việc bỏ qua những khu vực không quan trọng trên sân để tập trung kiểm soát những khu vực khác cho hiệu quả hơn. Một ví dụ đơn giản và thường gặp là trong sơ đồ 4-4-2-0 của Atletico, các tiền vệ biên của họ thường co vào giữa. Thay vì cố gắng phủ các khoảng không ở biên, họ thường di chuyển vào trong để kiểm soát các hành lang trong – vốn là khu vực “có giá trị hơn”.

Mở rộng ra thì bằng việc duy trì khối phòng ngự chặt chẽ, một đội bóng có thể tập trung vào một khoảng không cụ thể ở trên sân. Trong phần lớn các trường hợp thì khu vực cần kiểm soát nhất là trung lộ, bởi đấy là khu vực có giá trị chiến thuật nhất.

Tại sao đó lại là khu vực có giá trị chiến thuật nhất? Vì nhiều lý do, ví dụ vì đó là khu vực mà đội có bóng có nhiều lựa chọn tổ chức di chuyển-tấn công hơn, hay vì đó là khu vực thuận lợi nhất để tiếp cận những không gian quan trọng khác trên sân. Ở đây, ta thấy điểm tương đồng giữa bóng đá với môn cờ vua.

chess1.png
Karpov – Kasparov: Tranh chức vô địch năm 1985, trận thứ 16

Trong ảnh trên, cắt từ trận đấu giữa Karpov và Kasparov, Kasparov (quân đen) đã tạo được thế kiểm soát ở khu vực trung tâm và từ đó đi tới chiến thắng. Kasparov kiểm soát bằng cách nào? Bằng cách đặt quân mã ở vị trí D3 (từ đây quân mã này được xem như “bạch tuộc”, do ở vị trí đó, nó có khả năng kiểm soát khu vực trung tâm cực tốt) và đẩy tốt B4 lên, khóa chặt cả 2 quân mã của Karpov. Lúc này, Karpov chỉ còn một quân tượng và quân hậu là có thể tạo ảnh hưởng ở khu vực trung tâm của bàn cờ, trong khi Kasparov có cả 2 mã lẫn 2 tượng ở những vị trí rất có ảnh hưởng.

Bayern-1st-phase-bmg-compact.png
Đội hình Gladbach trong trận thắng Bayern 2-0

Nguyên tắc này cũng có thể được sử dụng khi đối phó với từng đối thủ cụ thể. Trong nhiều trường hợp, các đội bóng thường tập trung vào một khu vực nhất định nào đó trên sân trong những pha tấn công; để chống lại, đội phòng ngự có thể tạo ra và duy trì khối phòng ngự chặt chẽ đặc biệt ở khu vực này, khiến đối thủ không thể triển khai chiến thuật ban đầu một cách hiệu quả và có thể phải đối hướng tấn công.

Đấy là cách mà Real Madrid thường dùng trong các trận Clasico để chống lại Messi trong thời gian trước đây, khi Messi còn thường di chuyển dạt sang phải. Khi phòng ngự, sơ đồ 4-3-3 của họ chuyển thành 4-4-2, với sự tập trung hướng về cánh phải của Barca, nơi Messi thường hoạt động. Nhờ đó, Real có thể hạn chế tới mức tối thiểu ảnh hưởng của Messi, cũng như chặn được phần lớn những pha đi bóng vào giữa quen thuộc của cầu thủ người Argentina.

compact-on-Messi.png
Madrid phòng ngự ở hành lang có Messi

Ép đối phương dùng sở đoản

Qua việc kiểm soát khu vực trung lộ, một hàng thủ chặt chẽ có thể ép đối phương phải sử dụng tới một trong những chiến thuật tấn công ít hiệu quả nhất – tạt bóng. Tại sao lại ít hiệu quả? Một phân tích của Michael Caley chỉ ra rằng những cú đánh đầu hay sút bóng được thực hiện sau một quả tạt có tỉ lệ chuyển hóa thành bàn thắng thấp hơn nhiều so với những cú sút ở cùng vị trí.

Bởi thường thì sau một quả tạt, các cầu thủ thường chỉ có một lựa chọn là dứt điểm luôn, mà góc độ cũng như tốc độ bay của trái bóng trong các quả tạt lại không dễ kiểm soát. Bàn thắng kỳ vọng từ các quả đánh đầu hay các cú sút sau một quả tạt do đó thấp hơn hẳn so với các các cú sút thông thường.

Trong thực tế thì một tình huống thường gặp là đội phòng ngự sẽ chặn hết các đường chuyền bóng ở trung lộ bằng việc duy trì một cư ly hẹp giữa các vị trí trong khối phòng thủ, buộc đội tấn công phải dùng tới cứu cánh là đưa bóng cho cầu thủ duy nhất được tự do ở phần sân của đối phương – hậu vệ cánh. Trong rất nhiều trường hợp, hậu vệ cánh sẽ phải tạt bóng sớm, tức là tạt bóng khi còn chưa tới gần vòng cấm của đối phương, và đó là vị trí tạt bóng được xem là ít hiệu quả nhất.

BVBJuve-41212.png
Sau trận thắng của Juventus trước Dortmund ở Champions League cách đây mấy mùa, hậu vệ Stefan Lichtsteiner nói toẹt rằng cả trận họ chỉ tập trung phòng ngự ở trung lộ, cho Dortmund thoải mái thực hiện các quả tạt.

Đấy cũng là chiến thuật đã được HLV Claudio Ranieri sử dụng để đưa Leicester tới chức vô địch không tưởng cách đây 2 mùa. HLV người Italia cũng thường xuyên yêu cầu các cầu thủ duy trì một đội hình chặt, tập trung phòng ngự ở trung lộ (với sự xuất sắc của bộ đôi Drinkwater và Kante), và cho đối phương đưa bóng ra biên. Họ biết rằng những quả tạt vào sẽ dễ xử lý hơn, nhất là khi họ có bộ đôi trung vệ to lớn và chơi đầu cực tốt là Wes Morgan và Robert Huth.

Che giấu điểm yếu cá nhân

Với một hệ thống được tổ chức chặt chẽ, một đội bóng có thể hạn chế tác động từ những điểm yếu mang tính cá nhân. Nguyên nhân thì đã được trình bày ở trên, nhưng chủ yếu là vì trong một hệ thống chặt chẽ, tính kết nối là tốt hơn. Khi nhận được nhiều sự hỗ trợ hơn từ các đồng đội, một cầu thủ có thể là điểm yếu trong một hệ thống bình thường sẽ được bọc lót tốt hơn, từ đó giảm nguy cơ anh ta bị đối phương khai thác.

Một yếu tố khác là sự phân phối không gian giữa các cầu thủ. Nếu hệ thống không đủ chặt chẽ, nó sẽ phải bao phủ một khoảng không lớn hơn, đồng nghĩa với việc mỗi cầu thủ cũng phải quản lý một khoảng không gian lớn hơn. Đó là một nhiệm vụ quá khó hoàn thành trừ khi bạn vô tình là Sergio Busquets. Những cầu thủ phòng ngự kém nhất sẽ bị đối phương điểm mặt và tấn công; lúc này thì anh ta còn trở nên mong manh hơn, khi phải quản lý một khu vực quá lớn so với khả năng.

Mở rộng vấn đề, vì trong một hệ thống phòng ngự bị kéo giãn, tổ chức và duy trì sự ổn định là những nhiệm vụ rất khó khăn, sự phân phối không gian giữa các cầu thủ sẽ thành không đều. Một số cầu thủ sẽ phải phủ một khoảng không lớn hơn một số cầu thủ khác. Bằng cách luân chuyển bóng một một cách thông minh, đội tấn công có thể khai thác sự thiếu cân bằng này trong hệ thống phòng ngự của đối phương để làm lợi cho mình, qua việc ép những cầu thủ yếu hơn phải phủ một khoảng không lớn hơn.

bad-compaction-2.png
Đội hình của New York Red Bulls lúc này thiếu chặt chẽ, sự phân phối không gian giữa các cầu thủ là không đồng đều.

Ngược lại, trong một hàng thủ chặt chẽ, mỗi cá nhân sẽ chỉ phải phủ một không gian nhỏ hơn, do tổng không gian mà cả đội hình phải phủ cũng bé hơn. Điều đó khiến cho nhiệm vụ phòng ngự của mỗi cầu thủ đều trở nên dễ dàng thấy rõ. Cùng với đó, các khoảng không trong đội hình cũng được phân chia đều hơn, khiến cho đối phương càng thêm khó khăn trong việc khai thác những điểm yếu cá nhân.

good-compaction.png
Ở hình trên, đội hình của NY RB đã trở nên chặt chẽ hơn, các vị trí gần nhau hơn, các khoảng không mà mỗi vị trí đảm nhận cũng đồng đều hơn.

Giảm nguy cơ bị phản công

Một hàng thủ chặt chẽ cũng có những lợi ích đáng kể trong giai đoạn bắt đầu chuyển sang tấn công, ngay khi đội vừa đoạt lại được bóng. Có nhiều cầu thủ ở gần vị trí của trái bóng giúp đội phòng ngự (nay đã chuyển sang tấn công) chống lại những pha counterpressing tốt hơn.

Yếu tố then chốt tạo nên tính hiệu quả các những pha counterpressing là khi một đội bóng tấn công thì họ sẽ duy trì được một số lượng lớn cầu thủ ở trên phần sân của đối phương (và có thể gần bóng) ở thời điểm mất bóng, do đó số lượng những người có thể tham gia pressing ngay là lớn.

Thế nên, nếu đội phòng ngự cũng có số lượng lớn cầu thủ xung quanh vị trí của bóng trong những khoảnh khắc như thế, yếu tố làm nên một pha counterpressing thành công nói trên đã không còn giá trị hoặc ít giá trị hơn. Ngoài ra, khi một cầu thủ phòng ngự giành lại được bóng trong tình thế đang bàn, anh ta sẽ có nhiều lựa chọn để chuyền bóng hơn, nên có thể đưa trái bóng ra khỏi khu vực đối phương đang cố gắng gây sức ép ngược một cách nhanh chóng hơn.

Những lợi ích khi pressing

Những đội bóng pressing quyết liệt nhất và xuất sắc nhất trên thế giới đều có nền tàng là một hệ thống phòng ngự được tổ chức tốt và chặt chẽ.

Khi khả năng hỗ trợ lẫn nhau giữa các vị trí tăng lên, những hoạt động pressing đầu tiên có thể được tiếp nối ngay bởi những hoạt động pressing hỗ trợ từ các cầu thủ ở xa bóng hơn, từ đó làm cho cấu trúc pressing hợp lý hơn, và pha pressing ấy có thể tấn công vào các khoảng không gian một cách hiệu quả hơn. Việc phải có các hoạt động pressing hỗ trợ là yếu tố mang tính sống còn trong việc tạo nên một pha pressing ổn định, bởi nếu không, đối phương có thể dễ dàng thoát pressing bằng cách tấn công vào những khoảng trống mà đội đang pressing bỏ lại.

Ví dụ điển hình về một pha pressing tồi có thể tim thấy trong trận Chelsea gặp Everton ở Premier League cách đây mấy mùa. Trong hình dưới, pha pressing thiếu chặt chẽ và thiếu gắn kết của Everton đã dễ dàng bị Chelsea đánh bật trong tình huống dẫn tới bàn thắng thứ 2 của họ.

everton-unco-press.png
Cự ly đội hình theo chiều dọc của Everton là cực tệ, do đó các cầu thủ Chelsea có thể dễ dàng vượt qua đợt pressing của họ bằng cách khai thác các khoảng trống giữa các tuyến.

Một vấn đề khác khi pressing bằng một hệ thống thiếu chặt chẽ là các cầu thủ phải chạy quá nhiều. Các đội bóng Premier League trước đây thường bị chê là không biết pressing tầm cao khi các tiền đạo cắm của họ thường phải chạy liên tục trong 5 giây hoặc hơn trong một pha pressing, nhưng lại dễ dàng bị đánh bại bởi một đường chuyền đơn giản.

Lý do không phải vì cầu thủ không thể duy trì được tốc độ cao khi phải chạy một quãng đường quá xa, mà còn bởi một thực tế đơn giản là việc trái bóng có thể được luân chuyển với tốc độ cao hơn tốc độ của cầu thủ khiến cho nỗ lực pressing của cầu thủ này có thể dễ dàng bị đánh bại.

striker-running-far.png
Hệ thống pressing không chặt chẽ khiến cầu thủ chạy làm việc nhiều hơn mà hiệu quả lại thấp hơn

Ngược lại, khi một cầu thủ có sự hỗ trợ từ các đồng đội của mình, anh ta không phải chạy nhiều nữa, do không gian mà anh ta phải quản lý sẽ ít đi; khi bóng tới vị trí của cầu thủ khác, thì cầu thủ đó sẽ chịu trách nhiệm gây sức ép. Với việc có nhiều người tham gia pressing (hoặc ít nhất là hỗ trợ pressing) từ tuyến đầu tiên, đội phòng ngự cũng có thể dễ dàng điều chỉnh để thích ứng mỗi khi trái bóng thay đổi vị trí.

compact-less-individual-running1.png
Một hệ thống chặt chẽ cho phép pressing với nhiều cầu thủ hơn, do đó giảm yêu cầu cả về quãng đường lẫn cường độ vận động

Với những đội bóng tạo được khối phòng ngự có tính chặt chẽ cao, đối thủ sẽ gặp nhiều khó khăn khi muốn khai thác điểm yếu trong những pha pressing của họ. Trong nhiều trường hợp, khi đội thực hiện pressing không quan tâm tới việc duy trì sự chặt chẽ theo chiều dọc, họ sẽ để lộ nhiều khoảng trống giữa các tuyến, nhất là khi hành động pressing được bắt đầu một cách không đồng bộ.

Một khối phòng ngự chặt chẽ cũng sẽ giúp hạn chế tới mức tối thiểu các khả năng chuyền bóng ở đội có bóng, điều có thể mang tính sống còn tới hiệu quả của những pha pressing. Bởi khi không thể thực hiện những đường chuyền dọc sân để vượt qua tuyến áp lực đầu tiên, một cầu thủ có thể viện tới những đường chuyền ngang hoặc chuyền về, hành động chỉ khiến cho đội bóng của anh ta phải chịu áp lực lớn hơn.

Một khối phòng ngự chặt chẽ cũng giúp cho các đội bóng chuẩn bị cho hành động pressing tốt hơn.

Chặt chẽ khi tấn công

Một số HLV cũng đã áp dụng thành công những nguyên tắc về một hệ thống chặt chẽ như trên để tăng tính hiệu quả cho những pha tấn công. Tất nhiên, nguyên tắc duy trì tính chặt chẽ theo bề ngang sẽ lỏng lẻo hơn, bởi duy trì được biên độ rộng vốn là điều mà một đội bóng tấn công luôn phải làm để kéo giãn tuyến phòng ngự của đối thủ.

Cũng như khi phòng ngự, trong tấn công, việc các cầu thủ có nhiều sự kết nối hơn với các đồng đội có nhiều lợi ích. Đó là điều kiện tốt để thực hiện những pha phối hợp nhóm, do khoảng cách gần giúp các cầu thủ xung quanh dễ dàng hỗ trợ cầu thủ đang có bóng hơn. Barca trong mùa giải cuối cùng của Pep Guardiola thường xuyên sử dụng sơ đồ 3-3-4 với mục đích này. Những pha phối hợp nhóm như thế vừa giúp duy trì khả năng kiểm soát bóng, vừa có thể tạo được những tình huống mà từ đó đội tấn công có thể xuyên sâu vào hệ thống phòng ngự của đối thủ.

2246.png
Một tình huống trong trận Barca vùi dập Osasuna 8-0. Di chuyển ở trung lộ của các cầu thủ Barca giúp họ tạo được một tình huống phối hợp nhóm khiến đối phương mất ổn định.

Khi “mật độ” các cầu thủ trong một khu vực nhỏ trở nên dày đặc hơn, việc đội tấn công tạo được trạng thái overload là điều hoàn toàn tự nhiên. Khi đó, đội phòng ngự sẽ cố gắng dồn người về khu vực này để tái lập tình trạng cân bằng về nhân sự, nhưng vì thế sẽ bị hụt người ở vị trí khác, là nơi mà đội tấn công sẽ (hoặc có thể đã có kế hoạch) nhắm vào.

Bằng cách overload đối thủ, đội tấn công sẽ luôn có ít nhất một cầu thủ tự do ở khoảng không gian mà họ chọn làm nơi bắt đầu tấn công khoan phá hàng thủ đối phương. Cầu thủ tự do này cũng sẽ là người được sử dụng trong pha bóng quyết định (bởi không có cầu thủ phòng ngự nào của đối phương theo sát anh ta). Một ví dụ là trong trận RB Salzburg đánh bại Bayern Munich 3-0 hồi tháng 1/2014.

Mané-goal-overload1.png
Salzburg tạo được thế 5vs3 ở gần vòng cấm của Bayern trước khi Sadio Mane mở tỉ số. Mấu chốt lại việc cả Mane lẫn Kampl đều di chuyển vào trung lộ.

Khi một đội tấn công với đội hình chặt chẽ hơn, việc counterpressing sau khi mất bóng cũng trở nên dễ dàng hơn. Lý do rất đơn giản: Ở thời điểm mất bóng, đội vừa tấn công có nhiều cầu thủ ở xung quanh vị trí của trái bóng, và tất cả những cầu thủ này đều có thể gây sức ép ngay lập tức. Khi các cầu thủ tấn công gây sức ép đồng thời, khả năng đội vừa đoạt được bóng thực hiện được một đường chuyền phản công tốt sẽ thấp đi rất nhiều, nếu không muốn nói là bị triệt tiêu.

Sử dụng đội hình chặt thậm chí còn có thể được nâng tầm thành một chiến thuật tấn công, như đã được HLV Schmidt sử dụng ở Salzburg và Leverkusen. Khi mới có bóng, các cầu thủ của Salzburg hoặc Leverkusen thường thực hiện một đường chuyền dọc sân tới khu vực tập trung nhiều cầu thủ. Đường chuyền này không nhất thiết phải nhắm tới đồng đội của cầu thủ chuyền bóng, mà chỉ nhắm vào một khu vực nhất định nào đó, để làm sao nếu cầu thủ đối phương có cắt được, thì anh ta cũng sẽ lập tức bị 3 hoặc 4 cầu thủ đội tấn công counterpress ngay. Nếu đoạt được lại bóng, đội tấn công sẽ cái đà tốt để có thể thực hiện những pha khoan phá tiếp sau.

Red-Bull-Salzburg-Szene-Zweitballerwartung.png

Chống sự chặt chẽ như thế nào?

Trong trận thắng vùi dập AS Roma với tỉ số 7-1 ngay ở Rome của Bayern Munich, HLV Pep Guardiola đã phô diễn một phương pháp chống các hàng thủ chặt chẽ tuyệt vời. Trên giấy tờ, Pep sử dụng Arjen Robben như một wing-back phải trong sơ đồ 3-4-2-1. Điều này khiến nhiều CĐV của cả 2 đội cảm thấy bị sốc. Nhưng trên thực tế, Robben chính là người đóng vai trò then chốt trong thắng lợi ấn tượng của Bayern.

Roma-vs-Bayern-Grundformationen.png
Sơ đồ xuất phát của Bayern trước Roma

Bằng việc bố trí Robben chơi rất rộng, Bayern đã gây ra rất nhiều vấn đề cho hàng thủ Roma, vốn cố gắng duy trì sự chặt chẽ theo bề rộng. Bằng cách chuyển hướng tấn công bất ngờ, vốn là một vũ khí của Bayern do họ có Xabi Alonso trong đội hình, Bayern có thể dễ dàng đặt Robben vào thế 1vs1 với hậu vệ trái của Roma là Ashley Cole.

Sau những đường chuyền chéo sân chính xác và đưa bóng bay là là ở tốc độ cao của Alonso, đội hình của Roma thường không có đủ thời gian để nghiêng về hướng bóng. Thường thì khi Robben nhận bóng, hệ thống phòng ngự của Roma vẫn chưa hết xộc xệch. Ngoài ra, khác với những đường chuyền chéo sân thông thường, những đường chuyền của Alonso thường đặt đồng đội vào thế có thể vừa khống chế vừa đẩy bóng lên trước luôn. Thế nên mỗi khi Robben có bóng, anh thường có thể mặt đối mặt với Cole ngay. Mà ở thế mặt đối mặt như thế, ít ai cản được Robben, nhất là khi anh có một trận đấu để đời.

bayernroma1.png
Tình huống ở bàn mở tỉ số. Robben nhận bóng từ Alonso, cắt vào trong, đánh bại Cole và tung một cú cứa lòng tuyệt vời vào góc xa.

Như chúng ta có thể thấy ở sơ đồ trên, các cầu thủ Roma chơi với một đội hình rất chặt theo bề ngang. Cự ly ở hàng tiền vệ cũng ổn khi những khu vực cần thiết đều đã được bảo vệ. Nhưng thực tế thì họ đang bị kéo vào một tình thế bị overload bên cánh trái được tạo bởi 4 cầu thủ Bayern là Gotze, Bernat, Muller và Alonso. Từ đây chúng ta sẽ nhớ lại câu nói nổi tiếng của Guardiola”:

“Bạn chơi bóng ở một phần sân. Trước khi kết thúc ở phần sân bên kia” – Josep Guardiola

Bộ tứ của Bayern đã làm rất tốt để đưa được Alonso tới vị trí nhận bóng tuyệt vời. Ở đây, đối phương sẽ không thể gây áp lực với anh ngay do khả năng tiếp cận bị hạn chế. Và với một đường chuyền chuyển hướng tấn công ấn tượng thường thấy, Alonso đã đặt Robben vào thế 1vs1 với Cole.

Một phương pháp khác để chống lại một hệ thống phòng ngự chặt chẽ là khai thác điểm yếu về khả năng tiếp cận bóng của hệ thống này. Trong những khoảnh khắc đội phòng ngự không thể gây sức ép một cách có hiệu quả, họ trở nên rất dễ tổn thương ở những khu vực không được bảo vệ do hệ quả của việc cố gắng duy trì sự chặt chẽ. Thường sẽ là hai cánh hoặc khu vực phía sau hàng thủ. Đội tấn công sẽ phải lập tức tấn công được vào những khu vực ấy khi thời cơ xuất hiện. Mà việc thời cơ xuất hiện là đương nhiên, do không một đội bóng nào có thể duy trì được khả năng tiếp cận bóng liên tục trong 90 phút khi phòng ngự.

Các đội bóng của Andre Villas-Boas thường gặp vấn đề này. Cả Chelsea lẫn Tottenham khi AVB dẫn dắt đều thường dâng đội hình lên rất cao, nhưng lại không tạo được áp lực lên bóng. Khi sang Nga thì HLV người Bồ cũng mang vấn đề này theo luôn. Ta có thể thấy rõ vấn đề này trong một tình huống điển hình ở trận Zenit hòa 2-2 với Sevilla ở Europa League, trận hòa khiến họ bị loại do đã thua 1-2 ở lượt đi.

zenit-no-access.png
Trong trận đấu với Sevilla ở Europa League, Zenit đã gây áp lực khi không có được tính tổ chức tốt, và do đó không tiếp cận được bóng.

Trong tình huống trên, Vitolo có rất nhiều thời gian và khoảng trống khi nhận bóng do Zenit không có cầu thủ nào có thể tiếp cận để gây áp lực ngay. Có nhiều lý do dẫn tới tình trạng này, nhưng chủ yếu vì đội phòng ngự đã không tạo được sự chặt chẽ trong khối không gian được highlight bằng mù vàng nhạt. Sự phân bố khoảng không cũng không ổn, đặc biệt với bộ đôi Witsel và Shatov, chủ yếu do sự phối hợp và trao đổi thông tin không tốt.

Vấn đề của người Anh

Tính chặt chẽ từng là một vấn đề lớn của các đội bóng Premier League, và là một trong những lý do họ không thành công ở Champions League trong một thời gian dài gần đây.

man-city-game.png
Ví dụ trong trận thua của Man City thời Pellegrini trước Barca

Trong tình huống trên, đội bóng của Pellegrini đã chơi với tính chặt chẽ rất thấp, và điều đó đã dẫn tới những nỗ lực pressing không đồng bộ. Thực ra thì tính chặt chẽ cả theo bề rộng lẫn bề ngang của Man City trong tình huống này đều không quá tồi (dù cũng không tốt), vấn đề nằm ở tính chặt chẽ theo khoảng không. Nghĩa là tính chặt chẽ giữa các khu vực trong khối, mà ở ví dụ trên, Man City đã thiếu chặt chẽ ở khu vực được highlight màu hồng. Rakitic dễ dàng tấn công vào khu vực này và mở ra những cơ hội lớn cho Barca.

Tính tổ chức chung thấp như thế thường xuất phát từ sự chuẩn bị tồi. Vài giây trước khi tình huống trong hình diễn ra, không có cầu thủ nào của Man City có động thái chuẩn bị cho một pha pressing ổn định. Những người mắc lỗi lớn nhất là bộ ba tiền vệ; lẽ ra một trong số họ phải tách ra và di chuyển vào khu vực màu hồng để lấp khoảng trống, tạo tiền đề cho một pha pressing ổn định hơn.

Một số vấn đề khác, như kèm người theo tình huống không hợp lý, cho thấy tình trạng “thiếu thông minh về chiến thuật” khá phổ biến ở bóng đá Anh trước đây. Nguyên nhân được cho là tiêu chuẩn đào tạo thấp và sự đặc thù trong văn hóa bóng đá.

Khi so với những đội hàng đầu như Atletico, Bayern hay Juventus, sự khác biệt là quá rõ ràng. Để cho dễ thấy hơn, hãy tránh những nhà vô địch này ra, và nhìn vào Monaco, một đội bóng mà khi đối đầu với Arsenal được đánh giá là một đối thủ “dễ xơi” cho Pháo thủ.

Monaco1.png
Đội hình của Monaco có tính chặt chẽ rất cao, không cho Arsenal bất kỳ cơ hội tiếp cận từ trung lộ nào

Đối lập với City, Monaco đã phòng ngự với tính chặt chẽ rất cao. Nhờ đó, họ có được những lợi thế mà City không thể có, ví dụ khả năng tiếp cận bóng rất mạnh (do họ ở tư thế có thể gây sức ép quyết liệt và hiệu quả khi Berbatov nhận được sự hỗ trợ tích cực từ Moutinho và Dirar).

Ngoài ra, Monaco còn có thể kiểm soát được khu vực trung lộ, đẩy những cầu thủ tấn công của Arsenal như Sanchez ra khỏi các khu vực nguy hiểm. Một điều cũng cần lưu ý là ngay trước khi tình huống trên diễn ra, các tiền vệ và tiền đạo của Monaco đã tự điều chỉnh vị trí của mình để chuẩn bị pressing.

Tất nhiên, nhận định này về các đội bóng Anh đã không còn đúng lắm, do bây giờ các CLB cũng đã rất chú trọng tới tính chặt chẽ trong đội hình, nhờ được liên tục tiếp thu những kiến thức từ các HLV giỏi nước ngoài. Leicester lên ngôi vô địch với đội hình rất chặt, gần giống với 4-4-2 của Atletico Madrid.

——————————-

Nguồn: http://spielverlagerung.com/2015/05/08/tactical-theory-compactness/

Advertisements