Cách đây chưa lâu, BBC sau một cuộc nghiên cứu chi tiết đã đi đến kết luận The Golden Team – biệt danh của Hungary trong những năm 1950 – chính là đội tuyển xuất sắc nhất trong lịch sử bóng đá thế giới.

Để có được sự thừa nhận ấy, The Golden Team đã đánh bại một loạt ứng viên nặng ký, trong đó đáng kể có Tây Ban Nha của giai đoạn 2009-2011, Hà Lan giai đoạn 1973-75, Brazil 1969-1971, hay Pháp 1999-2001. Đó đều là những tập thể xứng đáng được gọi là thế hệ vàng của nền bóng đá từng nước nói riêng, và bóng đá thế giới nói chung.

Kết quả của BBC không đến từ những nhận xét cảm tính. Để có thể đi đến kết luận cuối cùng nói trên, các chuyên gia của họ, với sự hỗ trợ của siêu máy tính SAM, đã mổ xẻ một loạt yếu tố. Có thể kể ra đây số bàn thắng, số bàn thua, sức mạnh của đối thủ, và tính chất quan trọng của trận đấu (có phải ở các giải lớn hay không?), và nhiều yếu tố khác…

Tranh cãi thì tất nhiên không thể tránh khỏi. Nhưng tất cả đều phải thừa nhận Hungary của những năm 1950 thực sự là “đội bóng đến từ hành tinh khác”. Đó là tập hợp của nhiều cầu thủ xuất sắc nhất ở vị trí của họ, chơi thứ bóng đá mang tính cách mạng, và đạt được những kết quả không thể tin nổi.

14349168_10209022056582214_1195039037_n.jpg

Đội bóng ấy từng bất bại 31 trận liên tiếp trong giai đoạn từ 1950 tới 1954. Tỉ lệ thắng tới 91% trong giai đoạn từ 1950 tới 1956 hiện vẫn là một kỷ lục thế giới. Thực tế thì Hungary chỉ thua đúng 1 trận trong giai đoạn nói trên. Trận đấu ấy, bi kịch thay, lại chính là trận chung kết World Cup 1954 mà cho tới giờ, người Đức vẫn gọi là “Điều kỳ diệu ở Berne”.

Đó là điều đáng tiếc cho The Golden Team nói riêng và bóng đá Hungary nói chung. Họ xứng đáng có được ít nhất 1 chức vô địch thế giới sau những gì đã thể hiện. Tuy nhiên, đôi khi chính sự dang dở lại khiến bạn được nhớ đến nhiều hơn. Thực tế là tới giờ không nhiều người nhớ tới đội Tây Đức đã vô địch World Cup 1954, trong khi kẻ thất bại năm đó, Hungary, thì đã trở nên bất tử.

Lịch sử hình thành & và vai trò của Sebes

Bóng đá Hungary đã có những bước tiến đáng kể trước khi Chiến tranh thế giới thứ II nổ ra. Người Hungary cùng với người Áo và người Czech đã tạo nên cái gọi là Trường phái Danube (theo tên con sông chảy qua cả 3 nước), với những tư tưởng bóng đá đầy tiến bộ thoát hẳn khỏi “tư duy 2-3-5” (Kim tự tháp) được người Anh phổ biến.

Một trong những thành tựu đáng kể nhất của bóng đá Hungary là đội tuyển của họ giành quyền dự vòng chung kết World Cup 1938 và vào tới trận chung kết (thua Italia). Ngoài ra, các CLB trong nước như Ferencvaros và MTK cũng đạt được những thành tích khá ấn tượng ở các giải đấu cấp châu lục được tổ chức ở quy mô nhỏ.

Đó chính là nền tảng để bóng đá Hungary có những bước tiến mạnh mẽ trong những năm hậu thế chiến. Tuy nhiên, cũng phải tới khi Gusztav Sebes được bổ nhiệm làm HLV trưởng của đội tuyển Hungary vào năm 1949, thì ý niệm về cái gọi là The Golden Team, hay Những người Magyars quyền lực, Những người Magyars tuyệt vời, và nhiều tên gọi ấn tượng khác, mới thực sự thành hình.

14302948_10209022056502212_847228997_n.jpg

Gusztav Sebes

Sebes là một nhân vật quyền lực ở Hungary. Ông là một đảng viên Cộng sản lâu năm, thậm chí còn lãnh đạo nhiều phong trào công đoàn ở Hungary và Pháp. Nhờ đó, song song với việc dẫn dắt đội tuyển Hungary, ông còn nắm luôn chức phó Chủ tịch Liên đoàn bóng đá Hungary. Chính vị thế ấy đã giúp Sebes dễ dàng triển khai những ý tưởng mang tính đi trước thời đại của mình.

Trong số rất nhiều những ý tưởng của Sebes, có 3 ý tưởng thực sự vĩ đại. Thứ nhất, ông đề cao vấn đề thể lực của các cầu thủ. Nên nhớ là vào những năm 1950, khoa học thể thao vẫn chưa thành hình, và các cầu thủ hầu như không quan tâm tới việc làm thế nào để nâng cao khả năng cạnh tranh của bản thân. Việc đặt ra những câu hỏi nên ăn gì, ăn như thế nào, và sử dụng các loại thực phẩm/dược phẩm nào để tăng cường thể chất là hầu như không có.

Thứ hai, Sebes đề cao tính gắn kết giữa các thành viên trong đội tuyển. Quan sát 2 đội bóng mà ông ấn tượng nhất là Wunderteam của Áo (do HLV Hugo Meisl dẫn dắt) Italia của Vittorio Pozzo (2 lần vô địch World Cup), Sebes rút ra kết luật nòng cốt của đội tuyển tốt nhất chỉ gồm 1 hoặc 2 CLB. Đấy cũng là điều chưa xuất hiện (một cách có hệ thống) trước đó. Trước thời Sebes, các Liên đoàn thường có một Ủy ban tuyển chọn cầu thủ, những người đưa ra gợi ý về đội hình xuất phát dựa trên phong độ của các cầu thủ ở từng vị trí vào từng thời điểm.

Và cuối cùng, Sebes đưa ra những ý tưởng đầu tiên cho cái gọi là Bóng đá tổng lực mà phải hơn 20 năm sau người ta mới nói tới nhiều khi những người Hà Lan cùng nó làm mưa làm gió ở các giải đấu lớn. Sebes yêu cầu mỗi cầu thủ của ông phải học chơi và chơi được ở nhiều vị trí khác nhau để khi cần có thể hoán chuyển đội hình liên tục, và đội bóng có thể tấn công và phòng ngự như một khối thống nhất.

“Trận đấu thế kỷ”
Những thử nghiệm về nhân lực, chiến thuật và ý tưởng của Sebes sớm mang lại trái ngọt. Từ năm 1950, Hungary đã bắt đầu khiến cả thế giới phải chú ý khi trình diễn một thứ bóng đá tấn công tổng lực đẹp mắt, nhưng cũng cực kỳ hiệu quả, là sự kết hợp giữa sức mạnh, sức bền và sự nhiệt tình “nguyên bản”của bóng đá Anh với khả năng phối hợp và sự ngẫu hứng của các cầu thủ Nam Mỹ.

Tiếng vang đầu tiên mà Hungary tạo ra là ở Olympic 1952. Ở Phần Lan, đội bóng của Sebes không chỉ thẳng tiến tới chức vô địch, mà còn nghiền nát gần như mọi đối thủ trên đường đi: Đánh bại ĐKVĐ Italia 3-0 ở vòng 2, vùi dập Thổ Nhĩ Kỳ 7-1 ở tứ kết và Thụy Điển, đội được đánh giá là mạnh nhất, 6-0 ở bán kết, trước khi thắng nhẹ nhàng Nam Tư 2-0 ở chung kết. Chung cuộc, Hungary ghi tới 20 bàn chỉ trong có 5 trận!

14330897_10209022056622215_440139514_n

Đội hình Hungary đoạt HCV Olympic 1952. Từ trái sang: Lantos, Bozsik, Czibor, Palotás, Lóránt, Zakariás, Grosics, Kocsis, Hidegkuti, Puskás và Buzánszky.

Danh tiếng của Hungary khiến người Anh cảm thấy “nóng mặt”. Thời điểm đó, Anh vẫn tự xem mình là trung tâm của vũ trụ bóng đá. Họ xem chơi bóng theo cách Anh mới là chuẩn mực, và thậm chí còn tin rằng một trận đấu bóng đá cho đúng nghĩa một trận đấu chỉ có thể được tổ chức trong những điều kiện “tuyệt vời” ở Anh. Một lời thách đấu đã được đại diện FA đưa ra ngay trên khán đài diễn ra trận chung kết Olympic 1952.

Trận giao hữu giữa Anh và Hungary được ấn định vào ngày 25/11/1953, trên sân Wembley có sức chứa 105.000 chỗ ngồi. Đó là một trận đấu thu hút được sự chứng kiến của toàn thế giới. Báo chí Anh gọi đó là “Trận đấu thế kỷ” giữa 2 đội bóng “mạnh nhất thế giới”. Thực ra, báo chí Anh chỉ cố nâng Hungary lên một tầm cao mới, để có lý do để “nổ thật to” khi tuyển Anh đánh bại họ, điều mà ai cũng tin tưởng.

14356132_10209022056662216_1546882069_n.jpg

Puskas (trái) dẫn các cầu thủ Hungary ra sân trước trận đấu với Anh

Nhưng sự thật đã sớm bị phơi bày. Chỉ sau có 45 giây, khi các phóng viên đang mải dồn về phía cầu môn của Hungary, thì ở phía đối diện, lưới của Anh đã rung lên sau một pha tấn công chớp nhoáng được kết thúc bởi ngôi sao Hidegkuti. Tới phút 30, trận đấu coi như đã khép lại khi tỉ số được nâng lên thành 4-1 cho các vị khách. Tỉ số cuối cùng là 3-6, nhưng nó không phản ánh hết sự chênh lệch về sức mạnh giữa 2 đội.

Kém cả về thể lực lẫn kỹ thuật, các cầu thủ Anh hầu như chỉ đứng làm khán giả trong những pha ban bật như điện xẹt của Hungary. Kỹ thuật cá nhân của các ngôi sao Hungary cũng khiến không chỉ khán giả mà ngay cả các cầu thủ Anh cũng phải há hốc mồm. Tỉ số dừng lại ở mức “khiêm tốn” 3-6 chỉ đơn giản là vì các cầu thủ Hungary đã bỏ lỡ nhiều cơ hội một cách không thể tin nổi, trong khi hàng thủ của họ lại chơi chệch choạc không ngờ.

Thế nên, khi Hungary đè bẹp Anh với tỉ số 7-1 trong trận đá lại mà người Anh cố tổ chức để chứng minh thất bại nói trên chỉ là “tai nạn”, không còn ai cảm thấy quá bất ngờ.

Cái chết của W-M
Trước khi được Hungary “khai sáng”, người Anh có một niềm tin không gì lay chuyển được vào những “giá trị Anh”. Và họ có lý do để trở nên như thế. Nói gì thì nói, Anh là quê hương của bóng đá, và cũng chính người Anh là những người đã mang trái bóng ra khắp thế giới, phổ biến luật lệ, dạy chiến thuật, nói chung là đặt những viên gạch đầu tiên để xây nên nhiều nền bóng đá, trong đó có chính Hungary.

Ở thời điểm diễn ra trận giao hữu với Hungary, giá trị Anh phổ biến nhất chính là W-M, sơ đồ được HLV huyền thoại của Arsenal Herbert Chapman phát triển từ cuối những năm 1920. Dù nhiều nền bóng đá đã chứng minh còn có những con đường khác ưu việt hơn W-M, người Anh vẫn không chịu thay đổi. Dù gì, thì trong suốt 81 năm trước đó, họ chưa phải chịu bất kỳ thất bại nào trên sân nhà trước các đội thủ ngoài Quần đảo Anh.

Nhưng những gì mà thầy trò Sebes đã thể hiện ở Wembley là quá choáng ngợp. Sơ đồ chiến thuật của họ cũng là điều quá lạ lẫm với khán giả Anh. Thay vì 3-2-2-3 (W-M), Sebes sử dụng sơ đồ 3-2-3-2, với điều chỉnh đáng kể nhất là kéo tiền đạo Hidegkuti xuống chơi như một tiền vệ tấn công, hay một số 9 ảo.

14341470_10209022054942173_993705291_n.jpg

Hidegkuti (áo tối màu) ghi bàn khép lại chiến thắng 6-3 cho Hungary

Điều chỉnh này đã khiến trung vệ của Anh bối rối. Bình thường, anh ta sẽ theo kèm trung phong của đối phương. Nhưng khi trung phong đó “bỗng dưng” lùi sâu, anh ta không biết phải làm gì tiếp theo. Các tiền vệ của Anh cũng không biết làm thế nào trước một cầu thủ “lửng lơ” như thế.

Kết quả là Hidegkuti có thừa thời gian và không gian để liên tục đặt 4 cầu thủ tấn công phía trên ông trước những cơ hội ngon ăn. Hungary đã tung ra tổng cộng 35 cú sút trong trận đấu ấy (so với 5 của Anh). 6 bàn thắng dành cho họ vẫn là quá ít!

Chứng kiến màn vùi dập ấy, những bộ óc bóng đá của người Anh cuối cùng cũng phải thừa nhận sự lỗi thời của W-M. 13 năm sau, khi Anh vô địch World Cup 1966, họ đã chơi với sơ đồ không có tiền đạo cánh. Người đưa ra phát kiến ấy là Alf Ramsey, “tình cờ” thay lại chính là hậu vệ của đội tuyển Anh trong trận đấu với Hungary!

———————
NHỮNG KỶ LỤC CỦA HUNGARY
Kỷ lục thế giới: Tỉ lệ thắng 91% (thắng 42, hòa 7, thua 1 từ 4/6/1950 tới 19/2/1956)
Kỷ lục thế giới: 73 trận liên tiếp ghi được ít nhất 1 bàn (từ 10/4/1949 tới 16/6/1957)
Kỷ lục thế giới: 4 năm 1 tháng bất bại liên tiếp (từ 4/6/1940 tới 4/7/1954)
Kỷ lục thế giới: Bộ đôi ghi được nhiều bàn thắng nhất cho một đội tuyển (Ferenc Puskás & Sándor Kocsis với 159 bàn).
Kỷ lục thế kỷ 20: 84 bàn cho đội tuyển quốc gia (Ferenc Puskás)
Kỷ lục World Cup: Ghi 27 bàn chỉ trong một kỳ World Cup
Kỷ lục World Cup: Ghi trung bình 5,4 bàn/trận trong một kỳ World Cup
Kỷ lục World Cup: Hiệu số +17 trong một kỳ World Cup
Kỷ lục World Cup: Hiệu suất 2,2 bàn/trận cho một cá nhân ở một kỳ World Cup (Sándor Kocsis với 11 bàn trong 5 trận).
Kỷ lục World Cup: Trận thắng có cách biệt lớn nhất trong một kỳ World Cup (Hungary 9-0 Hàn Quốc, 17/7/1954)

NGÔI SAO

Ferenc Puskás:
Xuất thân là một inside-forward (người đá gần tiền đạo cắm nhất trong sơ đồ 5 tiền đạo), Puskas ra mắt bóng đá chuyên nghiệp khi mới 16 tuổi. Khi treo giày, ông đã ghi tổng cộng hơn 500 bàn ở các giải VĐQG trong màu áo Honved và Real Madrid. Thành tích 84 bàn trong 85 trận cho Hungary của ông cũng là một kỷ lục. Đặc biệt, Puskas có thói quen ghi bàn trong những trận cầu quan trọng.

József Bozsik:
Theo Puskas, Jozsef Bozsik chính là cầu thủ xuất sắc nhất mọi thời đại, đứng trên cả Pele, Maradona hay Cruyff. Trong đội tuyển Hungary, Bozsik được xem là người gắn kết toàn đội với khả năng quan sát tuyệt vời, độ chính xác trong những quyết định và cả sức ảnh hưởng bao trùm. Cho tới nay, ông vẫn là người có số lần khoác áo Hungary nhiều nhất.

Nándor Hidegkuti:
Xuất thân tiền đạo, nhưng Hidegkuti sau đó được HLV Sebes kéo xuống chơi như một trung phong lùi sâu, hay một số 9 ảo theo định nghĩa bây giờ. Phong cách quen thuộc của ông là thu hút các hậu vệ của đối phương rời vị trí, tạo ra khoảng trống cho các tiền đạo Puskas và Kocsis. Ngoài ra, Hidegkuti còn biết ghi bàn. Trong 69 trận cho Hungary, ông ghi được 39 bàn, trong đó có 3 bàn ở Wembley vào năm 1953.

Sándor Kocsis:
Mang biệt danh ‘koczkás’ (hình lập phương) nhờ khả năng đánh đầu không thể tin nổi, Kocsis là người ở gần Puskas nhất nếu xét về khả năng ghi bàn. Trong chỉ 68 trận cho Hungary, ông ghi được tới 75 bàn thắng. Ở World Cup 1954, Kocsis chính là Vua phá lưới với 11 bàn; tỉ lệ 2,2 bàn/trận cho tới nay vẫn là một kỷ lục của các VCK World Cup.

——
“Điều kỳ diệu ở Berne”

Với người Hungary, thì đó là “nỗi đau ở Berne”. Đấy là những khái niệm vẫn thường được sử dụng khi người ta nói về trận chung kết World Cup 1954 diễn ra giữa Tây Đức và Hungary ở Berne, Thụy Sỹ. Đó là trận đấu giữa 2 đối thủ hoàn toàn không tương xứng. Trong khi Hungary sở hữu toàn siêu sao, thì Tây Đức chỉ là tập hợp của những cầu thủ nghiệp dư.

Ở các trận đấu trước đó, Hungary cũng sớm thể hiện được sức mạnh vượt trội. Họ dễ dàng vượt qua vòng bảng sau khi vùi dập Hàn Quốc 9-0 và chính Tây Đức 8-3, đánh bại Á quân World Cup 1950 Brazil với tỉ số 4-2 trong trận “Đại chiến ở Berne”, và hạ tiếp đương kim vô địch Uruguay với tỉ số tương tự ở bán kết.

Ở Chung kết, Hungary cũng sớm thể hiện sự vượt trội khi dẫn trước 2-0 chỉ sau 8 phút. Nhưng Tây Đức đã bất ngờ vùng lên và chỉ mất 10 phút để san bằng cách biệt. Khi trận đấu chỉ còn 6 phút, Tây Đức vượt lên dẫn trước nhờ bàn thắng của Helmut Rahn. Puskas sau đó đã đưa được bóng vào lưới, nhưng lại bị tính lỗi việt vị. 3-2 chính là kết quả cuối cùng.

—–
HỌ NÓI GÌ VỀ THE GOLDEN TEAM?

Sir Tom Finney, huyền thoại của bóng đá Anh:
“Đó là một cuộc đua giữa những con ngựa đua và những con ngựa thồ. Họ chính là đội tuyển mạnh nhất mà tôi từng phải đối mặt. Đó là một đội bóng chơi thứ bóng đá đẹp mắt tuyệt vời, với những chiến thuật mà chúng tôi chưa từng được chứng kiến”.

Sir Stanley Matthews, huyền thoại bóng đá Anh:
“Họ là đội bóng mạnh nhất tôi từng phải đối mặt. Họ thậm chí là đội bóng mạnh nhất mọi thời đại.”

Brian Glanville, phóng viên The Guardian:
“Những người Hungary đã chơi thứ bóng đá tuyệt vời cả về chiến thuật lẫn kỹ thuật. Ferenc Puskás là một đội trưởng có ảnh hưởng lớn, với cái chân trái đáng sợ, và hợp với ông thành mũi giáo kép là Sándor Kocsis, người vẫn được biết đến với biệt danh “đầu vàng'”.

Advertisements