Thành công của Leicester một lần nữa chứng tỏ một đội bóng trung bình, thậm chí nhỏ, có thể làm được những điều phi thường nếu dám và mạnh dạn áp dụng kỹ thuật vào công tác quản lý bóng đá.

Khi nói tới thành công của Leicester, chúng ta thường nói tới sự khôn ngoan và quyết đoán của các ông chủ người Thái. Chúng ta nói tới kinh nghiệm, tài năng và đức độ của HLV Claudio Ranieri. Chúng ta nói tới sơ đồ 4-4-2 và chiến thuật phòng ngự phản công hiệu quả. Chúng ta nói tới sức mạnh của Kante, khả năng ghi bàn của Vardy, và ma thuật của Mahrez.

Nhưng khi chúng ta đi sâu hơn vào thành công của họ, ta sẽ thấy đó mới là bề nổi. Chúng ta còn phải nói tới bộ máy tuyển trạch thông minh do Steve Walsh đứng đầu, mà nhờ nó có, họ mới tìm ra được một Kante hay tới mức khiến các đại gia phải ngỡ ngàng. Chúng ta còn phải nói tới cách đội ngũ y tế của họ áp dụng công nghệ trong tập luyện và hồi phục, giúp cho các cầu thủ Leicester có thể chạy hùng hục cả mùa mà không dính chấn thương.

mahrez93.jpg_1773614239

Giữa bóng đá và game, như FIFA, không còn mấy khoảng cách

Bóng đá bây giờ không chỉ còn là vấn đề chuyên môn đơn thuần, nghĩa là đội nào có nhiều ngôi sao hơn, chiến thuật hợp lý hơn sẽ thắng nữa. Bóng đá bây giờ còn là một cuộc đua về công nghệ. Ngày này, các đội bóng không chỉ còn MUỐN nắm bắt công nghệ để vượt lên đối thủ, mà họ buộc PHẢI làm điều đó nếu không muốn bị bỏ xa lại phía sau.

Nói tới công nghệ, thì mảng big data – thu thập, phân tích dữ liệu và áp dụng các dữ liệu đó vào nhiều mặt của bóng đá (tuyển mộ, tập luyện, phân tích đối thủ…) – là một mảng hết sức thú vị. Và đây cũng là chủ đề cho bài viết của mình hôm nay.

NGƯỜI TIÊN PHONG SAM ALLARDYCE?!

Có thể bạn không tin, nhưng một trong những người đi tiên phong trong việc đưa công nghệ vào bóng đá là HLV Sam Allardyce. Trong những năm tháng chơi bóng cho Tampa Bay Rowdies, Allardyce đã bị ấn tượng mạnh bởi cách Tampa Bay Buccaneers, đội bóng đá kiểu Mỹ thường tập chung sân với Rowdies, áp dụng công nghệ vào các buổi tập. Ông rất muốn làm điều tương tự khi khởi nghiệp huấn luyện vào năm 1991, nhưng công nghệ thời đó chưa cho phép ông làm điều đó.

Phải tới năm 2000, khi Sam đã làm HLV của Bolton, thì ý tưởng của ông mới có cơ hội được triển khai. Đó là thời điểm Prozone – công ty công nghệ chuyên cung cấp số liệu dựa trên việc phân tích hình ảnh mà các camera được gắn sẵn trên các sân bóng gửi về – đã bắt đầu thu được những thành công đầu tiên (hợp đồng ra tiền đầu tiên của họ chính là với M.U, trong mùa giải họ ăn ba). Allardyce quyết định thuê Prozone thu thập dữ liệu cho mình, và mời người của họ về tham gia đội phân tích kỹ thuật.

Dựa trên những số liệu mà ông có được, Allardyce và đội ngũ đã dựng một một mô hình gọi là “Fantastic Four”: Bốn khu vực quyết định thành công. Họ biết rằng một đội bóng giữ sạch lưới 16 trong số 38 trận sẽ chắc chắn trụ hạng thành công. Họ biết rằng đội nào ghi được bàn thắng trước có 70% cơ hội chiến thắng. Họ biết rằng các bàn thắng từ các pha bóng cố định chiếm 1/3 số bàn thắng một đội bóng ghi được. Và họ cũng biết rằng những quả tạt xoáy vào trong thì tạo ra cơ hội ăn bàn cao hơn những quả tạt xoáy ra ngoài.

allardyce

Bolton được Allardyce nâng tầm bằng công nghệ

Allardyce cũng áp dụng công nghệ trong việc tuyển chọn cầu thủ. Một ví dụ kinh điển là Gary Speed. Khi về với Bolton, Speed đã 35 tuổi, nhưng thống kê cho thấy anh vẫn chạy trung bình hơn 11 km mỗi trận, và có tỉ lệ chuyền bóng chính xác trên 80%. Speed chơi cho Bolton thêm 4 năm, và là hạt nhân trong thành công vượt tầm của đội bóng này (là đội duy nhất ngoài Big 4 có mặt trong top 8 trong 4 năm liên tục). Đội hình của Bolton thời đó cũng toàn những cầu thủ kiểu Speed, hoặc là hết thời, hoặc không phải sao số, nhưng ai cũng có một điểm mạnh, và điểm mạnh ấy được khai thác triệt để bởi Allardyce.

XU THẾ KHÔNG THỂ ĐẢO NGƯỢC

Theo thời gian, công thức của Allardyce trở nên lỗi thời. Đơn giản vì bóng đá liên tục vận động, mà công nghệ thì vận động còn mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, những gì mà Allardyce đã làm được với Bolton thực sự khiến giới làm bóng đá ở Anh phải thay đổi suy nghĩ. Họ bắt đầu chú ý tới Prozone (hay những công ty chuyên cung cấp dữ liệu tương tự). Tới bây giờ, thì 20/20 đội bóng Premier League đã áp dụng công nghệ Big data vào quản lý, và 300 đội bóng khác trên toàn thế giới đang xem Prozone như là một đối tác chiến lược của họ.

Nhờ áp dụng big data, các HLV có thể phân tích được điểm mạnh/yếu của từng cầu thủ, và đưa ra những điều chỉnh sát sườn. A cần phải tiến thêm vài mét trước khi nhận bóng, B cần phải đưa được bóng vào khu vực C trước khi dứt điểm. Những dữ liệu cũng giúp các HLV tránh sa vào việc đánh giá cầu thủ theo định kiến. Ví dụ ở trường hợp của Oezil. Người xem bình thường sẽ bảo anh ta lười chạy. Nhưng thống kê sẽ cho thấy Oezil luôn là một trong những cầu thủ chạy nhiều nhất ở Arsenal!

yagNFqd.jpg

Ở trận đấu bị chê là lười, Oezil chạy nhiều thứ 3 trên sân!

Big data cũng giúp các HLV phân tích lối chơi của đối thủ để đưa ra những điều chỉnh mang tính ứng phó thích hợp. Nếu đối thủ là đội thích chơi trung lộ mà không quen đá cánh, thì cần phải “khuyến khích” họ đưa bóng ra biên và tạt vào, điều mà Atletico của Diego Simeone vẫn hay làm trong các trận đấu với Barca. Bạn cũng có thể làm điều tương tự nếu tin tưởng vào những chỉ số kiểu aeral win rate (tỉ lệ thắng không chiến), clearance (phá bóng)… của các trung vệ mà mình có, như trường hợp của Ranieri ở Leicester.

Trong công tác chuyển nhượng, công nghệ big data đóng vai trò then chốt. Nhờ mạng lưới dữ liệu ngày càng rộng, một HLV hay một tuyển trạch viên có thể chỉ cần ngồi trước máy tính là đã có thể có đủ thông tin về một cầu thủ mà họ đang nhắm tới. Những công ty như Prozone có dữ liệu của trên 130.000 cầu thủ chuyên nghiệp ở 130 nước. Ngoài ra, chính các đội bóng cũng thường tự xây dựng cho mình một hệ thống đánh giá cầu thủ thích hợp với những yêu cầu riêng của họ.

Có những câu chuyện kể rằng Wenger mua Mathieu Flamini lần đầu tiên chỉ vì một thống kê cho thấy cầu thủ này đã chạy hơn 14 km trong một trận đấu. Hay Liverpool chi đậm cho bộ đôi Henderson, Downing hồi 2011 vì tỉ lệ đoạt lại bóng ở khoảng 1/3 sân cuối cùng (nghĩa là khả năng cướp bóng ở gần vòng cấm đối phương) của họ là quá ấn tượng.

Tất nhiên, người ta thường không chiêu mộ một cầu thủ theo cách ấy. Có rất nhiều yếu tố cần xem xét, trong đó có cả yếu tố tâm lý, gia đình, môi trường sống. Nhưng thực sự là việc sử dụng big data đã giúp các đội bóng tiết kiệm đáng kể thời gian và công sức. Bạn luôn có thể biết một cầu thủ này có thể đáp ứng được những tiêu chí của mình hay không trước khi cử người tới sân theo dõi trực tiếp.

Ở những đội bóng nhỏ, sử dụng công nghệ trong tuyển dụng càng mang tính sống còn. Mô hình moneyball hiện đã được rất nhiều đội bóng nhỏ và trung bình áp dụng để tìm kiếm những cầu thủ chưa có tên tuổi đang chơi ở các giải hạng thấp nhưng sở hữu những thống kê ấn tượng. Ví dụ Kante. Trước khi sang Anh và làm đình đám ở Leicester, tên anh chẳng được mấy ai nhắc tới. Nhưng Leicester biết rằng anh đã 2 năm liên tiếp là cầu thủ có số lần đoạt bóng nhiều nhất Ligue 1!

CÁCH XEM BÓNG ĐÁ CŨNG THAY ĐỔI

Công nghệ không chỉ thay đổi các đội bóng, mà còn thay đổi cả các khán giả. Trước đây, khi nói về một ngôi sao, chúng ta thường dùng những tính từ chung chung, kiểu như xuất sắc, khéo léo, năng nổ, mạnh mẽ, quyết đoán… Bây giờ, khi nói về một cầu thủ, chúng ta sẽ đánh giá anh ta dựa trên những thông tin kiểu như anh ta có bao nhiêu pha qua người, tạo ra bao nhiêu cơ hội, thực hiện được bao nhiêu cú tắc bóng và tỉ lệ chuyền bóng trên phần sân của đối phương ra sao…

21_1.jpg

Hãy làm quen với những bản đồ kiểu này

Đó là sự thay đổi tất yếu, khi mà các tờ báo, các đài truyền hình ngày càng chú trọng, thậm chí phụ thuộc vào những thống kê khi họ bình luận về các trận đấu, về phong cách của một HLV hay năng lực của một cầu thủ. Mạng xã hội cũng góp phần tạo nên sự thay đổi. Ngay khi một cầu thủ vừa ghi bàn, Twitter hay Facebook sẽ cho bạn biết ngay đó là bàn thắng thứ bao nhiêu của anh ta, và liệu có kỷ lục/cột mốc nào vừa được thiết lập hay không. App WSTELEVISION thậm chí còn cung cấp thông tin LIVE về số đường chuyền, thậm chí quãng đường của từng cầu thủ trên sân trong các trận đấu ở Champions League.

THỜI CỦA NHỮNG OPTA

Ai là người đã cung cấp những thống kê cho các nhà đài? Chính là Opta! Chính xác hơn, Opta là chủ yếu. Công ty thống kê thể thao này có quan hệ đối tác với rất nhiều hãng truyền thông lớn, về các đài truyền hình có Sky Sports, BBC (chương trình Match of the Day nổi tiếng), về các tạp chí, các trang báo thể thao có FourFourTwo, Guardian, BBC, Times…

Opta có thể cung cấp dữ liệu LIVE và chi tiết nhất về tất cả các trận đấu ở Premier League, Championship, Bundesliga 1 và 2, Ligue 1 và 2, Serie A, MLS, A-League, và một số giải lớn khác. Ngoài ra, họ cũng cung cấp những thông tin cơ bản – gồm bàn thắng, phạt góc, thẻ vàng, thẻ đỏ – về các trận đấu ít được quan tâm rộng rãi khác, thông qua một hệ thống cộng tác viên điện thoại có mặt trực tiếp trên các sân.

Mình biết các bạn cũng đang thắc mắc điều mà mình thắc mắc từ lâu? Opta thu thập dữ liệu theo cách nào?

Câu trả lời là bằng… tay. Suy cho cùng, máy móc vẫn chưa thể làm được hết việc của con người. Để lấy dữ liệu từ một trận đấu, Opta thường phải sử dụng 3 chuyên viên phân tích (analyst). Một người cover hết thông số của đội A. Người kia cover hết thông số của đội B. Người còn lại đóng vai checker, người kiểm tra thông tin.

opta-main.jpg

Thao tác của một analyst khiến bạn nghĩ tới một thanh niên nghiện… game. Tay phải di chuột, tay trái gõ phím, mắt dán vào màn hình. Yêu cầu đầu tiên của analyst, do đó, là khả năng phối hợp tay-mắt. Những bạn trẻ hay chơi game thường bắt nhịp với công việc rất nhanh. Trong khi những người đứng tuổi, và không có “lịch sử” chơi game, gặp rất nhiều khó khăn, và thường không ai lại trụ lại được.

Mỗi analyst thường ngồi trước ít nhất 2 màn hình. Thường thì họ sẽ thao tác trên một màn hình chính, với một phần mềm mô phỏng mặt sân, màn hình kia dùng để kiểm tra lại thông tin. Khi một cầu thủ A chuyền bóng cho một cầu thủ B, analyst sẽ click vào điểm bóng rời chân cầu thủ A, rồi click tiếp vào điểm bóng chạm chân cầu thủ B. Chỉ một thao tác đó cũng đồng nghĩa với rất nhiều mẩu dữ liệu: điểm nhận bóng, điểm kết thúc, độ dài đường chuyền, vị trí, độ chính xác… Trung bình mỗi trận, Opta xử lý từ 1.600 đến 2000 dữ liệu như thế.

442-statzone-app.jpg

Ứng dụng FourfourtwoStatzone sử dụng dữ liệu do Opta cung cấp

Điểm mấu chốt trong quy tắc làm việc của Opta là sự thông suốt. Định nghĩa thế nào là một cú tắc bóng (tackle) ở Anh cũng như ở Nhật hay ở Đức phải giống hệt nhau. Sự có mặt của checker chính là để đảm bảo sự thông suốt. Anh ta chính là người quyết định xem hành động vừa diễn ra có chính xác là một cú tắc bóng hay không, bàn thắng kia có tính cho cầu thủ A hay không, hay lại phải tính là một bàn phản lưới…

TẠM KẾT

Công nghệ đang thay đổi hoàn toàn thế giới bóng đá. Không chỉ các đội bóng không làm bóng đá theo cách truyền thống nữa, mà ngay cả cách chúng ta xem bóng đá cũng đã khác xưa.

Tuy nhiên, công nghệ mặc dù có tác động rất lớn lao, với nhiều điểm ưu việt, song không bao giờ thay thế được hết vai trò của con người. Bạn tìm được một cầu thủ tuyệt vời về mặt thống kê, nhưng bạn có thể thất bại thảm hại với anh ta, bởi bạn không biết rằng anh ta không có khả năng học ngoại ngữ, xuất thân từ một gia đình bất ổn, hay có tiền sử thích… cắn người.

Công nghệ nói chung và công nghệ xử lý big data nói riêng cũng có thể tạo ra những cách đánh giá sai lầm. Giữa một cầu thủ sút trúng đích 10/10 quả, nhưng không ghi được bàn nào, với một cầu thủ sút trượt 9/10 quả, nhưng lại ghi được bàn, bàn thích cầu thủ nào hơn? Một cầu thủ có thể chạy 14 km mỗi trận, nhưng chủ yếu là đi bộ hoặc jogging, với một cầu thủ chạy có 10 km, nhưng đa phần trong đó là những pha di chuyển ở tốc độ cao, bạn sẽ chọn ai?

Dữ liệu không thể thay bạn đưa ra các quyết định. Chúng chỉ có thể hỗ trợ bạn làm việc đó. Vậy nên, họ lựa chọn dữ liệu một cách khôn ngoan, và sử dụng chúng theo cách còn khôn ngoan hơn nữa.

Advertisements